CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU
Bí quyết thành công của Henry-ford

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:09' 11-03-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:09' 11-03-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I CẬU BÉ TRANG TRẠI
PHẦN II DŨNG CẢM TIẾN LÊN
PHẦN III CUỘC CHIẾN CẠNH TRANH
PHẦN IV DOANH NGHIỆP HIỆN ĐẠI
PHẦN V THỜI KỲ PHỤC HƯNG
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
T
Lời nói đầu
rong lịch sử, không có nhiều công ty có ảnh hưởng
đến nền văn minh nhân loại lớn như Công ty ô tô
Ford. Chính kỹ sư cơ khí Henry Ford đã dẫn dắt
một nhóm nhân tài sáng lập ra doanh nghiệp sản xuất ô
tô với phương thức và quy mô sản xuất lớn, đưa cả thế giới
công nghiệp vào thời kỳ hiện đại. Cuốn sách “Bí quyết
thành công của Henry Ford” sẽ giúp chúng ta tìm hiểu
Henry Ford và Công ty ô tô Ford đã làm thay đổi thế giới
như thế nào, đồng thời giới thiệu với chúng ta quá trình
phát triển và lớn mạnh cũng như cho chúng ta thấy được
mặt vượt trội của Công ty ô tô Ford. Mỗi một chương
trong cuốn sách đều xuất hiện một nhà phát minh kiệt
xuất, kể cả Thomas Edison, nhiều nhà kinh doanh nổi
tiếng…
Henry Ford và những kinh nghiệm về sản xuất, kinh
doanh của ông đáng để chúng ta học tập.
PHẦN I
CẬU BÉ TRANG TRẠI
I. NGUỒN GỐC
Henry Ford ra đời tại một trang trại nhỏ ở Springfield,
bang Michigan. Thị trấn này nằm cách Detroit 10 dặm về
phía Tây, sau này được sáp nhập vào thị trấn Dearborn.
Ngày nay, Dearborn đã trở thành vùng ngoại ô của thành
phố ô tô, dân số tập trung đông đúc với những đại lộ rực
rỡ ánh đèn và con đường cao tốc 6 làn xe, từng dãy từng
dãy những khu chung cư phát triển với một tốc độ nhanh
chóng đang mọc lên trên vùng đất mênh mông này. Tuy
vậy, vào năm Henry Ford ra đời (1863), Dearborn chỉ là
một thị trấn nhỏ. Ở đó, những cánh rừng rậm rạp Nam
Michigan thoai thoải xuôi về hướng Đông, mãi đến cuối
chân trời mới thấy ống khói của nhà máy đầu tiên ở
Detroit đang nhả khói lên bầu trời. Đi tiếp về hướng đông
là khu vực của 5 hồ lớn, những con thuyền chở gỗ và
nguyên vật liệu xuôi ngược trên sông, từ hồ Huron đến hồ
Saint Clair, rồi từ sông Detroit đến hồ Erie và trung tâm
công nghiệp ở khu Đông Bắc. “Trong thời kỳ nội chiến, ở
khu vực giữa miền Tây, Detroit là một thành phố nhỏ
thịnh vượng và hiếu khách. Thành phố chỉ có 45.000
dân, mặc dù có những bến cảng, cầu tàu, cửa hiệu và nhà
máy nhỏ luôn bận rộn nhưng vẫn giữ được diện mạo của
thời kỳ đầu. Ngoài ra, kinh tế của thành phố lệ thuộc khá
nhiều vào rừng, mỏ quặng, đường sông và đường sắt.“ Bruce Catton, nhà sử học đã viết như vậy trong cuốn sách
“Michigan: Một giai đoạn lịch sử” (Michigan: A history).
Khi Henry Ford ra đời, trên bán đảo Keweenaw ở
miền Tây Michigan có một lượng quặng đồng rất phong
phú. Điều khiến các nhà tìm kiếm thêm phấn khích là họ
còn phát hiện được trên bán đảo có một mạch quặng sắt
khổng lồ và một khoảng rừng rậm rộng lớn. Henry Ford
đã lớn lên trong những năm 70 của thế kỷ XIX, vào thời
điểm đó Michigan là một khu vực xa xôi hẻo lánh, những
hoạt động thương mại chỉ hướng về phía Đông, những
người có con mắt nhìn xa trông rộng lại đầu tư vào vùng
miền Tây rộng lớn chưa được khai thác. Có lẽ môi trường
sống nơi đây đã có ảnh hưởng rất lớn đến Henry Ford.
May mắn là thị trấn Springfield đã cung cấp cho cậu
thanh niên có chí hướng này “mảnh đất trung tâm” tốt
nhất. Nơi đây ban đầu được xây dựng để làm trạm dừng
chân, nằm trên con đường từ Detroit đến Chicago. Về
phía Đông, một cỗ xe bò đi từ Detroit đến đây cũng phải
mất một ngày đường. Về phía Tây, Chicago cách đó 269
dặm. Giống như hiện nay, vào thời điểm đó, Detroit là
thành phố lớn thứ hai đứng sau Chicago. Vị trí địa lí giáp
ranh với Dearborn đã khiến cho những tư tưởng mới của
Detroit ảnh hưởng đến Dearborn từ lĩnh vực thời trang,
vui chơi giải trí đến lĩnh vực chính trị và tiến bộ. Gia đình
Ford là một trong những gia đình có tư tưởng tiên tiến
nhất ở đây. Bởi vậy, dù Henry Ford lớn lên ở trang trại
nhưng đó không phải là nơi để nuôi dưỡng những người
nông dân. Trên thực tế, cha của Ford là William Ford đã
từng có trong tay một trong những trang trại thành công
nhất vùng.
Lịch sử phấn đấu của William Ford bắt đầu từ năm
1847 khi ông rời khỏi Ireland. Khi đó, ngoài việc di cư,
ông và gia đình không còn lựa chọn nào khác. Trang trại
rộng 23 mẫu Anh mà họ từng thuê có thể nuôi sống cả gia
đình hơn 10 người, nhưng đến giai đoạn khó khăn vào
năm 1845-1848, do không thanh toán được tiền thuê đất,
giống như nhiều gia đình nông dân ở Ireland, họ phải rời
bỏ tổ quốc. Điều may mắn là gia tộc Ford đã chọn nước
Mỹ làm nơi gây dựng lại cơ nghiệp.
Năm 21 tuổi, William Ford cùng với cha mẹ là John và
Thomasina và 6 anh chị em đã đi một chuyến tàu với giá
vé thấp nhất vượt qua Đại Tây Dương đến Mỹ để tìm hai
người chú là George và Samuel Ford. Từ năm 1832, hai
người chú đã đến nước Mỹ và định cư ở gần Detroit.
Trong vòng 15 năm sau đó, họ đã gửi thư về cho gia đình
ở Ireland để ca ngợi sự tự do ở thế giới mới. Tuy vậy, dù
viễn cảnh có tươi sáng đến đâu thì bi kịch cũng đã đến với
gia đình Ford trên con đường đến Mỹ. Trong cuộc hành
trình, Thomasina lâm bệnh và qua đời. Tang lễ của bà nội
Henry Ford có lẽ đã được diễn ra trên biển.
Sau khi đến Michigan, họ dựng một căn nhà nhỏ trên
mảnh đất của những người chú ở Springfield. Sau đó một
năm, Henry, em của William đã gia nhập đội quân đào
vàng ở California. Điều này khiến William rất đau lòng.
Ông ở lại, tiếp tục gánh vác trách nhiệm của người anh cả.
Tháng 1 năm 1858, cha của ông đã mua lại một mảnh đất
rộng 80 mẫu Anh từ tay của một người đồng hương
Ireland tên là Henry Maybury với giá 200 đô-la. Gia đình
Ford đến Springfield đúng vào lúc bắt đầu thời đại khai
thác nguyên liệu gỗ của Michigan. Từ những năm 40 đến
những năm 90 của thế kỷ XIX, giá trị khai thác gỗ ở bang
này đã vượt qua con số 1 tỉ đô-la, còn nhiều hơn số vàng
khai thác được ở California. William nắm lấy cơ hội này,
giúp cha thanh toán tiền cho số đất mà họ đã mua, sau đó
ông kiếm được việc làm mộc ở công ty đường sắt trung
ương Michigan.
Năm 1858, John Ford quyết định nghỉ ngơi, ông chia
mảnh đất 80 mẫu Anh thành hai phần bán cho hai người
con trai là William và Samuel. Cậu con trai cả rất tự hào
khi có được một mảnh đất của riêng mình. Năm 1859,
ông thậm chí còn treo tờ hóa đơn nộp thuế đất trong
phòng ngủ của mình. Nhớ về cha mình khi đó, Margaret
Ford Ruddiman đã nói: “Đối với ông, có một nơi có thể
khiến cho một người đàn ông có được mảnh đất để làm
việc và sinh sống quả là một kỳ tích của nước Mỹ”.
Xuất thân của Mary Litogot, mẹ của Henry Ford vẫn
luôn mang một chút bí ẩn. Bà sinh năm 1839, lớn lên ở
Wyon Dort, Michigan, là con gái duy nhất trong gia đình
người thợ mộc William Litogot có 4 người con. Litogot có
lẽ đến từ nước Bỉ, hoặc không phải nước Bỉ - Henry Ford
thường nói rằng mẹ ông là người Hà Lan. Khi Mary mới 3
tuổi, William Litogot không may qua đời. Về nguyên
nhân cái chết, có người nói rằng ông bị rơi từ trên mái
nhà xuống, có người lại nói rằng ông bị ngã trên sông
băng. Bốn đứa trẻ mồ côi đều tìm cho mình được một gia
đình êm ấm. Nhất là Mary, bà đã trở thành niềm vui và
niềm tự hào của cha mẹ nuôi là Patrick O'Hern và
Margaret O'Hern.
Patrick O'Hern đến từ vùng Cork, Ireland, cách gia
đình Ford vẻn vẹn 30 dặm. Khi gia đình Ford rời khỏi
Ireland thì O'Hern cũng rời nhà gia nhập quân đội Anh.
Sau đó ông đã trốn khỏi quân đội ở Quebec, Canada, đến
định cư gần Detroit. Năm 1850, cũng là lúc Mary Litogot
O'Hern vừa tròn 10 tuổi, William Ford đã bắt đầu lao
động trên mảnh đất 91 mẫu Anh trị giá 1000 đô-la của
cha. Sau này, vào một thời điểm ngẫu nhiên, chàng trai
William Ford chợt nhận ra cô gái nhỏ có mái tóc nâu của
nhà O'Hern đã trở thành một cô gái xinh đẹp. Ngày 25
tháng 4 năm 1861, cô gái nhà O'Hern 22 tuổi kết hôn với
William khi đó 34 tuổi.
William Ford chuyển đến ở trong ngôi nhà mới mà
ông cùng bố vợ dựng nên, bắt đầu làm việc ở trang trại
của gia đình vợ. Hai vợ chồng O'Hern coi William như
con đẻ, chưa đến 3 năm, họ đã chuyển nhượng lại cho
William mảnh đất trị giá 1000 đô-la của mình. Một năm
sau, William Ford kiếm được một món tiền trong một vụ
mua bán đất. Ông đã bán mảnh đất 40 mẫu Anh mua lại
của cha, giá 600 đô-la năm 1858 với giá 2500 đô-la. Tiếp
đó, ông và vợ mua tiếp một mảnh đất 80 mẫu Anh giáp
phía Tây, thêm vào đó là mảnh đất 40 mẫu Anh với giá
4100 đô-la ở phía Đông vào năm 1867, tổng diện tích đất
của họ đã lên đến 211 mẫu Anh.
Đứa con đầu lòng của họ làm một cậu con trai, sinh
năm 1862, nhưng tiếc là đứa trẻ đã chết khi còn rất nhỏ.
Ngày 30 tháng 7 năm 1863, đứa trẻ thứ hai ra đời, hai vợ
chồng William đặt tên con là Henry Ford. Một tháng
trước khi Henry ra đời, trận chiến mang tính quyết định
của cuộc chiến tranh Nam - Bắc đã diễn ra ở
Pennsylvania. Trận chiến này đã biến nước Mỹ trở thành
quốc gia thống nhất và ổn định. Cậu của Henry Ford là
John Litogot đã hy sinh trong một trận chiến ở bang
Virginia. Tuy vậy, tư tưởng của Henry Ford gần như
không chịu ảnh hưởng gì quá lớn từ cuộc chiến tranh
Nam - Bắc. Sau này ông còn nói một cách rất nghiêm túc
rằng, sự kiện lớn nhất trong thời kỳ chiến tranh Nam Bắc chính là việc cha ông mua một chiếc máy cắt cỏ để từ
đó, hiệu suất sản xuất của trang trại đã tăng lên 10 lần.
Dù William Ford rất muốn truyền lại cho cậu con trai
cả tình yêu đối với đất đai nhưng Henry Ford chẳng hề
hứng thú với cuộc sống nông thôn và sự lao động vất vả
của những người nông dân. Tuy vậy, trang trại, đặc biệt là
những trang trại lấy hiệu suất làm đầu, có thể nói là
những phòng thí nghiệm tự nhiên của Henry Ford. May
mắn là người cha đã cho cậu con trai có đủ không gian và
được sử dụng những công cụ của trang trại để làm những
việc mình thích. Giống như Margaret đã nói: “Mỗi khi
chúng tôi nhận được những món quà giáng sinh có kết
cấu như máy móc, chúng tôi đều nói: 'Đừng để Henry
nhìn thấy chúng, nếu không chúng sẽ bị tháo ra thành
từng mảnh'.”
Henry Ford luôn được cha mẹ nuông chiều. Mary
Litogot Ford đã đặt cho Henry Ford một chiếc bàn làm
việc ở gian bếp để cậu có thể sửa lại những đồ chơi mà
những đứa trẻ khác đã làm hỏng hoặc làm một số công
việc có ích khác. Bà quả là một người có óc hài hước.
“Chính bà đã làm cho gia đình trở thành một nơi thật tốt
đẹp” - Henry Ford vào năm 60 tuổi đã nói như vậy khi
nhớ về người mẹ kính yêu của mình.
Henry Ford luôn mang theo người một quyển sổ tay
nhỏ, trong đó ghi lại những câu cách ngôn mà ông đã học
được từ mẹ khi còn nhỏ. Trong một lần trả lời phỏng vấn
về bí quyết thành công của mình, ông đã nói: “Tôi luôn
nỗ lực sống như mẹ tôi vẫn hằng kỳ vọng nơi tôi”.
Rất nhiều người quen biết Henry Ford từ nhỏ đã
chứng thực rằng, những điểm chứng tỏ sự thiên tài,
khuynh hướng cũng như những khiếm khuyết của Ford
được bộc lộ ngay từ nhỏ. Bởi vậy, ông nhận được sự đối xử
khá đặc biệt của những người thân trong gia đình “Cha
mẹ cho phép anh ấy dậy muộn”, Margaret nói: “Cũng
chẳng có lý do gì đặc biệt, chỉ vì anh ấy còn đang ngủ. Tất
cả lũ trẻ đều đã dậy và đi làm công việc của mình, chỉ có
anh ấy là vẫn nằm trên giường”. Nhưng một nỗi bất hạnh
đã giáng xuống cuộc đời hạnh phúc của Henry Ford. Ngày
29 tháng 3 năm 1876, 12 ngày sau khi sinh đứa con thứ
tám, mẹ của Henry Ford đã qua đời khi mới 37 tuổi. Năm
đó Henry chưa đầy 13 tuổi. “Như vậy là quá bất công đối
với tôi”, Henry nói. Ông viết: “Sau khi mẹ mất, gia đình
giống như một chiếc đồng hồ không có dây cót”.
Ba năm sau, Henry lúc đó 15 tuổi rời trường học, từ bỏ
con đường đến với cánh cổng trường Phổ thông trung học
và Đại học. Ngày 1 tháng 12 năm 1879, ông đến Detroit,
bắt đầu tìm kiếm giấc mơ cơ khí của mình. “Khi Henry lần
đầu tiên rời khỏi trang trại, ông đã có nhận thức về sự
mạo hiểm” - nhà văn Sidney Olson viết - “Nhưng trên
thực tế, ông lại được an toàn như ở trong giáo đường. Ông
ở cùng Rebecca Flaherty, người cô mà ông yêu quý nhất,
còn Jane, con gái của Rebecca lại đang chăm sóc gia đình
William Ford. Trang trại vẫn luôn là một hậu thuẫn an
toàn ở phía sau Henry, cha ông đã chuẩn bị sẵn sàng cho
ông một mảnh đất để trở thành một người nông dân”.
Henry Ford ở nhà của chị cả của cha, ông nhanh
chóng tìm được một công việc ở Nhà máy công ty ô tô
Michigan, chuyên sản xuất xe điện chạy trên đường ray.
Tuy vậy, ngay sau đó 6 ngày ông bị đuổi việc, lý do cho
đến giờ vẫn là một bí mật. Từ đó về sau Ford luôn trốn
tránh câu hỏi này, chỉ để lại một ám thị khiến người ta
nửa tin nửa ngờ: Sự thành thục quá sớm của ông trong
công nghệ cơ khí đã xúc phạm đến những người công
nhân có kinh nghiệm hơn ông.
Cho dù nguyên nhân là gì thì lần thất bại đầu tiên này
không có gì ghê gớm. Ford, dưới sự giúp đỡ của cha đã
tìm được một công việc mới. William giới thiệu Ford đến
học việc ở nhà máy cơ khí James Flower Brothers. Đây là
nhà máy chuyên thiết kế và sản xuất những chi tiết máy
bằng đồng và sắt, ông chủ và cha của Ford rất thân với
nhau. Tuy nhiên, thu nhập cho một tuần làm việc 60
tiếng của Ford chỉ có 2,5 đô-la, mà tiền trọ và tiền ăn lại
cao hơn 1 đô-la so với thu nhập, điều này buộc Henry
phải tìm thêm một công việc làm đêm: sửa chữa đồng hồ
cho một nhà buôn đá quý ở địa phương. Đó là cơ hội để
Henry tìm hiểu các loại van, ống hơi, đồng hồ tín hiệu, trụ
cứu hỏa cùng các linh kiện của hệ thống cung cấp nước và
các sản phẩm khác mà nhà máy cơ khí James Flower's
Brothers sản xuất.
Trong số những người bạn học việc cùng với Ford có
một cậu bé 10 tuổi tên là Frederick Strauss. Hai cậu bé
đều có chung khát vọng, nhưng điều làm họ thất vọng là
họ chẳng học được gì nhiều. Dù toàn bộ các thiết bị máy
móc ở nhà máy có thể khiến nó hoàn thành được các công
việc từ thiết kế bản vẽ ban đầu cho đến đúc và gia công
hoàn chỉnh các chi tiết, nhưng Ford lại không hiểu được
bao nhiêu về quy trình đó bởi cậu chỉ có thể đứng bên
chiếc máy của mình mà thôi.
Tài năng của Henry giúp ông hoàn thành bất cứ một
công việc gì chẳng mấy khó khăn. Ông luôn đi lại trong
nhà máy, không ngừng đưa ra các câu hỏi với những
người công nhân có kinh nghiệm hơn để cố gắng học lấy
điều gì đó, bất luận là người ta đang làm gì. Khi đó
Frederick Strauss đã bắt đầu làm việc cho một nhà máy ở
đối diện đường. Hai người vẫn tiếp tục tìm kiếm giấc mơ
của họ thời niên thiếu. “Henry Ford luôn muốn chế tạo
một thứ gì đó” -Strauss nhớ lại - “Lần đầu tôi thấy ông ấy
tiêu tiền là khi ông ấy bỏ ra 1,25 đô-la để mua một chi tiết
đúc”. Ford mua những thứ đó để làm một chiếc máy hơi
nước cỡ nhỏ, nhưng lại không có những kỹ thuật gia công
chuyên nghiệp cần thiết để chiếc máy nhỏ vận hành được.
Bởi vậy, ông đã nhờ Strauss. Strauss giấu những chi tiết
đúc nhỏ ở nơi ông làm việc, khi không có người chú ý,
ông làm những công việc được Henry giao.
Nhưng chiếc máy hơi nước của họ cuối cùng đã không
thể hoàn thành, đây cũng không phải là lần thất bại duy
nhất. Strauss còn làm giúp Henry rất nhiều việc nhưng họ
đều thất bại; không những thế, chi phí cho những công
trình nhỏ của họ đều do mẹ của Strauss chi trả. “Henry
luôn có những ý tưởng mới” - Strauss nói - “Tuần nào
chúng tôi cũng bắt đầu làm một thứ gì đó nhưng chẳng
lần nào thành công”.
May mắn là - ít ra là gia đình Strauss cảm thấy may
mắn, Henry Ford phải tạm thời quay trở về trang trại.
Mùa xuân năm 1882, Henry trở về Dearborn, bởi vì ông
đã sắp 20 tuổi, bạn bè và người thân ở quê nhà, đặc biệt là
cha của Henry hy vọng rằng Hank (mọi người khi đó
thích gọi ông như vậy) đã nhận thức được rằng cuộc sống
ở thành phố lớn không dành cho ông và ông sẽ an tâm với
công việc kinh doanh ở trang trại của gia đình. Nhưng
vòng quay trong đầu chàng thanh niên trẻ vẫn không
ngừng chuyển động. Cậu đồng ý sống ở nhà, nhưng vẫn
lấy danh nghĩa là đại diện của Công ty Westinghouse, đi
khắp nơi ở Nam Michigan và Bắc Ohio sửa chữa máy hơi
nước. Chính vào giai đoạn Henry Ford bắt đầu trưởng
thành, xe đạp đang lên cơn sốt ở Mỹ. Những chiếc xe đạp
đến từ Paris trong những năm 60 của thế kỷ XIX đã
chứng minh nó là một công cụ giao thông giá rẻ, sạch sẽ
và có hiệu suất cao. Đến những năm 90 của thế kỷ XIX,
xe đạp đã xuất hiện ở khắp nơi trên nước Mỹ. Trước đó,
phương tiện giao thông duy nhất chỉ có ngựa. Nhưng
ngựa quá đắt, nuôi dưỡng chúng cũng mất rất nhiều công
sức, chạy trên đường đá cuội lại phát ra tiếng ồn rất lớn.
Hơn nữa ngựa còn thải phân, vừa thu hút ruồi nhặng lại
vừa dễ lây lan bệnh tật. So với ngựa thì xe đạp không đem
lại cho con người trở ngại và sự đe dọa nào. Chính vì thế,
một thời xe đạp rất thịnh hành. Trên thực tế, rất nhiều
nhà chế tạo ô tô ở châu Âu đã bắt đầu sự nghiệp bằng
công việc chế tạo xe đạp.
Ford cũng giống như những người bạn cùng ngành ở
châu Âu, đã áp dụng một số nguyên lí của xe đạp vào phát
minh ô tô. Ban ngày ông sửa chữa máy hơi nước, tối đến
ông học kế toán, đánh máy, vẽ cơ khí và một số giáo trình
kinh doanh phổ thông khác ở Đại học Thương mại
Goldsmith, Bryant and Stratton. Mỗi khi có thời gian ông
lại tiếp tục các công việc phát minh của mình. Năm 21
tuổi, trong vòng tròn xã giao nhỏ hẹp ở Detroit, Henry đã
tìm thấy hạnh phúc của mình. Trong một buổi vũ hội,
một cô gái nhỏ nhắn với mái tóc màu hạt dẻ đã thu hút sự
chú ý của ông. Qua bạn bè giới thiệu, Henry đã làm quen
với Clara Jane Bryant. Trang trại của gia đình cô chỉ cách
nhà Ford 5 dặm. Cha của cô là con của một người dân di
cư đến từ Canada, đã từng nhậm chức trong bộ máy lập
pháp của bang. Là con thứ ba trong gia đình và là cô con
gái lớn nhất, Clara phải giúp bố mẹ chăm sóc hơn 9 anh
chị em. “Cô ấy là một cô gái rất tốt, rất đẹp, được mọi
người yêu mến và cũng rất nhanh nhẹn” - Edward Moner
nhớ lại - “Cô ấy không thường xuyên tham gia các buổi vũ
hội, theo tôi được biết, khi đó những người theo đuổi cô
ấy cũng không nhiều”.
Ban đầu Clara không mấy để ý đến Ford, nhưng không
lâu sau, cô bắt đầu cảm thấy có hứng thú với chàng trai
khác người này, bởi vì Henry không hời hợt như những
thanh niên khác. Cô yêu thích sự nhiệt tình của Ford.
Ngày 11 tháng 4 năm 1888, cũng là ngày sinh nhật lần thứ
22 của Clara, Henry và Clara đã làm lễ cưới tại gia đình
Bryant. Trước khi hai người quen nhau vào tháng 4 năm
1986, William Ford đã từng có ý định giao lại cho Henry
mảnh rừng 80 mẫu Anh để Henry an tâm ở lại trang trại.
Henry Ford bắt đầu nộp thuế tài sản cho mảnh đất này
vào năm 1887, đồng thời lắp đặt một chiếc máy cưa hơi
nước để sản xuất gỗ. Sau khi kết hôn, ông chấp nhận đề
nghị của cha, cùng vợ chuyển đến căn nhà cũ trong trang
trại này (những người em của Henry đã dọn dẹp lại căn
nhà như mới để làm món quà cưới cho anh cả). Một năm
sau, dựa vào thiết kế của Clara Ford, Henry Ford đã dùng
vật liệu gỗ do trang trại sản xuất để dựng một căn nhà
hình vuông có lan can ở xung quanh. Sau khi dọn về sống
trong tổ ấm bé nhỏ, đôi vợ chồng trẻ dường như đã bắt
đầu cuộc sống bình thản mà gia đình đã sắp xếp cho họ.
Tuy nhiên, sau đó một hai năm, Ford bắt đầu lên kế
hoạch quay lại làm việc ở Detroit. Điểm đặc biệt thu hút
ông là Công ty chiếu sáng Edison, ông cho rằng mình
nhất định sẽ tìm được một công việc ở công ty này. Ông
bàn bạc, hỏi ý kiến vợ. Henry Ford có thể là một người cố
chấp nhưng ông cũng dễ bị khuất phục trước tình cảm,
ông luôn nói rằng, Clara là người có thể làm thay đổi cách
nghĩ của ông. Tuy nhiên, Clara luôn ủng hộ ông. “Bà ấy là
một tín đồ của tôi”, Ford đã nói về vợ mình như vậy.
Clara Bryant Ford đã chấp nhận đề nghị quay trở lại
với ngành công nghiệp của Henry. Tháng 9 năm 1891, với
sự giúp đỡ của anh em nhà Clara, hai vợ chồng Henry đã
chuyển nhà đến Detroit, trọ trong một căn hộ với số tiền
thuê nhà là 10 đô-la/tháng. Henry Ford đã được trở lại
Detroit như ý nguyện nhưng thành phố này lại đang trong
giai đoạn kinh tế tiêu điều 1891-1892. Có đến 1/3 số người
muốn tìm việc ở Detroit không có được việc làm. Tuy vậy,
đối với Henry Ford, ông không gặp khó khăn trong
chuyện tìm việc, ông đã có được một công việc như mong
ước - kỹ sư trạm điện của Công ty chiếu sáng Edison. Ông
nhanh chóng chứng minh được khả năng của mình bằng
cách luôn duy trì hoạt động cho chiếc máy phát điện.
Điều đó đã khiến công ty rất hài lòng, ông nhanh chóng
được cất nhắc, lương của ông tăng từ 40 đô-la/tháng lên
75 đô-la/tháng. Không lâu sau ông đã trở thành kỹ sư
đứng đầu trạm điện nơi ông phụ trách. Chức vụ này khiến
ông phải có mặt 24/24 tại trạm điện nhưng cũng đem lại
cho ông thu nhập 1000 đô-la/năm.
Ngày 6 tháng 11 năm 1893, đứa con duy nhất của
Clara và Henry Ford chào đời. Đó là một cậu con trai, hai
vợ chồng Ford dựa vào tên của một người bạn thân nhất
của Henry Ford thời niên thiếu là Edsel Radman để đặt
tên cho cậu con trai là Edsel Bryant Ford. Vài ngày sau
đó, Henry Ford lại được tăng lương, mức lương hàng
tháng là 90 đô-la. Ba tuần sau ông lại được thăng chức kỹ
sư trưởng trạm điện chính thành phố của Công ty Edison.
Nơi làm việc mới của ông cách nơi ông trọ tới 25 dãy phố.
Họ lại phải chuyển nhà một lần nữa. Sự thực đã chứng
minh rằng lần chuyển nhà này là một may mắn. Nơi ở
mới của họ chỉ cách Công ty Edison 3 dãy phố, là một
trong những khu vực được cấp điện sớm nhất trong thành
phố. Tuyệt vời hơn nữa là phía sân sau còn có một căn
phòng nhỏ, là nơi lý tưởng để làm một xưởng nhỏ, chiếc
xe ô tô chạy bằng xăng đầu tiên của Ford đã ra đời tại đây.
Vào năm 1891, ngành công nghiệp ô tô đã bắt đầu xuất
hiện ở Đức và Pháp, nhưng phải đến hai năm sau đó
người Mỹ mới lần đầu tiên ngồi ô tô. Mãi đến tháng 9
năm 1893, hai anh em Charles Duryea và Frank Duryea
mới lái chiếc xe ô tô chạy bằng xăng do họ thiết kế xuất
hiện trên đường phố Massachusetts. Vào thời khắc bình
minh của thời đại ô tô, cũng giống như anh em nhà
Duryea, Ford cũng cho rằng động cơ xăng là động cơ lý
tưởng cho ô tô. Ông nắm được những ưu, nhược điểm của
máy hơi nước: nó cần thời gian rất lâu để làm nóng và sức
nặng của ác quy cũng khiến xe chuyển động chậm hơn.
Vào đêm cuối năm năm 1893, Ford đã thử nghiệm
chiếc động cơ xăng đầu tiên của mình. Chiếc động cơ này
trông chẳng khác gì một khẩu pháo đồ chơi cỡ lớn, rất
nặng, cần tới hai người khiêng, bởi vậy, Henry chuyển
phát minh của mình vào trong bếp, Clara trở thành trợ
thủ của ông. Clara nhỏ vài giọt nhiên liệu trong khi Henry
quay bánh đà, nhưng ban đầu chẳng có gì xảy ra. Lần thứ
hai, chiếc máy đột nhiên phát ra tiếng và bắt đầu chuyển
động nhưng nhanh chóng biến thành một quả cầu lửa.
Trong phút chốc, căn bếp nhà Ford ngập khói đen và
những âm thanh khủng khiếp. Tuy vậy, theo Clara thì lần
thí nghiệm này cũng có thể coi là một thắng lợi. Sự khoan
dung độ lượng của Clara chỉ có thể được giải thích bằng sự
thông cảm và hiểu biết đối với người chồng của mình, bà
biết chồng mình đang làm gì, bà cũng biết họ nhất định sẽ
có được gì đó từ những nỗ lực của chồng.
Đầu năm 1894, Ford lại được đề bạt, trong số 50 nhân
viên của Công ty chiếu sáng Edison ở Detroit, ông là
người có mức lương cao nhất: 100 đô-la/tháng. Khả năng
hơn người và sự nhiệt tình đã khiến ông có được sự ủng
hộ lớn từ những đồng nghiệp. Ông cùng một số kỹ sư của
công ty thuê một căn phòng ngầm trước được dùng làm
kho chứa hàng ở phố đối diện, cải tạo thành một xưởng cơ
khí, chuyên dùng để thử nghiệm động cơ xăng. Ford là
người lãnh đạo, đưa ra các ý tưởng và đa số các nguyên
vật liệu, những người bạn của ông phụ trách việc thực hiện
các công việc. Sự tập trung trí tuệ của họ đã đưa đến một
thành quả phi thường, cuối cùng họ cũng đã chế tạo ra
được một loại xi-lanh thích hợp.
Còn một người nữa có cùng ý tưởng với Ford và những
người bạn của ông. Đó là Charles Shiredy King, trẻ hơn
Ford 5 tuổi. Đến năm 1895, King ít nhất đã phấn đấu hai
năm cho mục tiêu chế tạo ô tô. Ngày 6 tháng 3 năm 1896,
chiếc xe đầu tiên do King chế tạo đã được xuất hiện trên
đường phố, người dân Detroit lần đầu tiên nhìn thấy ô tô.
Trên thực tế, chiếc ô tô có tên “Tootsie” về cơ bản là một
chiếc xe ngựa gỗ lắp thêm một động cơ 4 xi-lanh, tốc độ
lớn nhất khoảng 4 dặm/giờ. Tại sao King có thể thành
công sớm hơn Ford 3 tháng? Có người nói hai năm trước
ông đã từng đến Paris để khảo sát ngành chế tạo ô tô tại
Pháp, sau đó đã áp dụng một số thiết kế và linh kiện tiên
tiến cho chiếc xe của mình.
Trải qua gần 48 tiếng liên tục làm việc không ngừng,
sáng sớm ngày 4 tháng 6 năm 1896, Ford đã hoàn thành
công trình của mình. Mới 4 giờ sáng, Ford đã đem phát
minh của mình ra trình diễn trước công chúng, chẳng có
bất kỳ một nghi thức nào, khán giả chỉ có hai người: vợ
ông - Clara và James W.Bishop - trợ thủ đắc lực của ông.
Khi Ford chuẩn bị lái chiếc xe ra phố, ông lập tức nhận ra
rằng chiếc xe không thể được đưa ra ngoài qua cánh cửa
nhỏ của căn xưởng. Đây cũng là vấn đề khá phổ biến
trong giới kỹ sư thời bấy giờ, ví dụ như năm 1908, Martin,
người đi tiên phong trong lĩnh vực hàng không đã chế tạo
ra chiếc máy bay đầu tiên trong một giáo đường bỏ
hoang. Nhưng đến khi chuẩn bị cho máy bay cất cánh thì
Martin mới phát hiện ra ông không thể đưa được chiếc
máy bay ra khỏi giáo đường, ông đã phải nhờ đến một
chiếc máy ủi của công trình gần đó húc đổ một bên tường
giáo đường để đưa chiếc máy bay ra. Ford cũng đã áp
dụng biện pháp tương tự như của Martin: Ông dùng rìu
để đục một lỗ lớn trên tường, đưa chiếc xe ra.
Xét về mặt kỹ thuật, chiếc xe ngựa không ngựa đầu
tiên của Ford chưa thể coi là một chiếc xe ô tô, chỉ có thể
nói là một chiếc xe bốn bánh lắp động cơ 2 xi-lanh, 4 mã
lực, nặng 500 pound (khoảng 226 kg), chỉ có hai mức tốc
độ, không lùi được xe, cũng không có phanh. Người lái
chỉ có thể ngồi trên chiếc ghế lắp phía trên động cơ, điều
khiển xe thông qua chiếc vô lăng, trên chiếc vô-lăng có
gắn một nút chuông cửa, coi như là còi ô tô. Tuy vậy,
chiếc xe của Ford đã vượt qua chiếc “Tootsie” của King:
tốc độ của nó có thể đạt được khoảng 20 dặm Anh.
II. KHỞI NGHIỆP
Đến giữa mùa hè năm 1896, Henry Ford trở thành kỹ
sư trưởng được tôn trọng nhất ở Công ty chiếu sáng
Edison Detroit với mức lương 140 đô-la/tháng. Tháng 8
năm đó, Alexander Dow, người đứng đầu mới của Công ty
chiếu sáng Edison đã mời ông cùng tham gia cuộc họp
thường niên lần thứ 17 của Hiệp hội Công ty chiếu sáng
Edison, địa điểm tổ chức cuộc họp là ở khu Manhattan,
thành phố New York. Đây là một chuyến du lịch có ý
nghĩa vô cùng quan trọng bởi nó đã cho Ford cơ hội trực
tiếp tiếp xúc với Thomas Edison, người mà Ford vẫn luôn
ngưỡng mộ. Alexander Dow đã giới thiệu Ford với
Edison, Edison rất khen ngợi phát minh của Ford, khích
lệ ông hãy tiếp tục phấn đấu.
Những lời khích lệ của Edison có ảnh hưởng rất quan
trọng đối với cả cuộc đời của Ford. Vào thời điểm đó, dân
số của Detroit tiếp tục tăng trưởng, không có thành phố
nào ở Mỹ có mức tăng trưởng nhanh như Detroit. Khi
Ford ra đời, quy mô của Detroit chỉ xếp hàng thứ 19 ở Mỹ,
nhưng đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nó được liệt
vào danh sách 13 thành phố lớn ở Mỹ, dân số đạt 285.704
người. Ngoài ra nó còn là thành phố có tỉ lệ dân không
nói tiếng Anh lớn nhất ở Mỹ. Sau cuộc khủng hoảng vào
năm 1893, Detroit bắt đầu phát triển hưng thịnh. Những
chiếc xe điện đi lại trên những con phố chính nhiều như
mắc cửi. Rất nhiều nhà doanh nghiệp được thu hút đến
đây. Rất nhiều nhà máy đã mọc lên ở đây. Vào năm 1900,
Detroit đã có 44 triệu phú, trong số họ có rất nhiều người
muốn đầu tư vào ngành công nghiệp ô tô.
Trong số những người có ảnh hưởng ở Detroit, người
tỏ ra hứng thú với hạng mục của Ford chính là Thị trưởng
thành phố, William C.Mayburry. Gia tộc Mayburry đã có
mối quan hệ thân thiết với gia tộc Ford từ nhiều năm nay.
Trên thực tế, Mayburry đã giúp đỡ Ford rất nhiều trong
thời gian Ford đang nghiên cứu chiếc xe mới trong căn
xưởng ở gần trạm phát điện của Công ty Edison. Khi đó
Ford phải thuê một người thợ sắt chế tạo các chi tiết kim
loại, nhưng người thợ này yêu cầu phải thanh toán ngay.
Với sự giúp đỡ của ngài thị trưởng về mặt tài chính, Ford
chỉ cần đưa hóa đơn cho ông là có thể yên tâm, người thợ
sắt luôn được thanh toán đúng hẹn.
Những chi phí cho việc chế tạo ô tô đã buộc Ford phải
chuyển nhà lần nữa vào tháng 6 năm 1897, nơi ở mới có
giá thuê rẻ hơn, có một gian phòng thích hợp để làm
xưởng gia đình nhưng lại cách xa trạm điện của Công ty
chiếu sáng Edison. Ford đã mời Strauss sau giờ làm đến
giúp mình. Đầu năm 1898, Ford đã chế tạo thành công
chiếc ô tô chạy xăng đời thứ hai của mình. So với chiếc xe
đầu tiên, chiếc xe thứ hai đã có sự cải tiến rất lớn, có thể
cạnh tranh được với ô tô điện và ô tô hơi nước. Ô tô hơi
nước do anh em nhà Stanley chế tạo. Hai anh em sinh đôi
nhà Stanley sinh ở bang Massachusetts, họ là những nhà
chế tạo ô tô nghiệp dư, nhưng sau khi chiếc xe được ra
mắt công chúng, họ đã nhận được hơn 200 đơn đặt hàng.
So với hai đối thủ cạnh tranh là ô tô chạy xăng và ô tô
điện, ô tô chạy bằng động cơ hơi nước có một ưu thế đặc
biệt: đó là khả năng tăng tốc. Chỉ cần vặn nhẹ van là chiếc
xe đã có thể tăng tốc, nhưng với điều kiện chiếc xe phải
được gia nhiệt trước đó khoảng nửa tiếng. Động cơ xăng
về mặt khởi động cũng có nhược điểm riêng: phải dùng
tay để quay cần khởi động. Ô tô chạy xăng dù chưa được
coi trọng vào thời điểm đó nhưng Ford biết rằng sau này
nó sẽ có tương lai phát triển. Ông cảm thấy ô tô điện và ô
tô hơi nước đã phát triển đến đỉnh điểm, chẳng còn chỗ
nào để phát triển hơn nữa, tốc độ của xe điện quá chậm,
phạm vi hoạt động bị hạn chế.
Tháng 8 năm 1898, bộ chế hòa khí do Henry Ford
thiết kế năm trước đã nhận được bản quyền, dù là xin
dưới danh nghĩa của William C.Mayburry thì đây vẫn là
bản quyền đầu tiên của Ford. Trước đây, Mayburry chính
là nhà đầu tư của Ford, và khi đó cũng đang đầu tư cho
chiếc xe thứ hai của Ford. Sau đó không lâu, Mayburry đã
không còn là hậu thuẫn duy nhất của Ford và cũng không
còn là người duy nhất tin tưởng vào tương lai của ngành ô
tô. Sau khi Ford giành được bản quyền đầu tiên, thị
trưởng Mayburry đã nhanh chóng liên hệ với 3 nhà đầu
tư cũng nhiệt tình như ông: Ellery I.Garfield của Công ty
Ford Wayne, giáo sư bác sỹ Benjamin R. Hoyt và E.A.
Leonard của Công ty bảo hiểm nhân thọ và sự cố
Standard. Họ đã thảo một bản thỏa thuận ghi nhớ đơn
giản, thỏa thuận 4 người sẽ cung cấp tiền cho thí nghiệm
ô tô của Ford, mỗi người chi 500 đô-la. Điều kiện là Ford
chỉ giữ 1/3 quyền bản quyền, 2/3 quyền bản quyền thuộc
về những nhà đầu tư. Sau khi việc tiêu thụ ô tô của Ford
thu được lợi nhuận, việc phân chia lợi nhuận cũng sẽ được
chia theo tỷ lệ tương tự. Nếu thành quả thí nghiệm của
Ford dẫn đến sự ra đời của một công ty nào đó thì thỏa
thuận vẫn tiếp tục có hiệu lực, công ty mới sẽ dành cho
Henry Ford một mức thù lao xứng đáng.
Tháng 8 năm 1899, Ford...
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I CẬU BÉ TRANG TRẠI
PHẦN II DŨNG CẢM TIẾN LÊN
PHẦN III CUỘC CHIẾN CẠNH TRANH
PHẦN IV DOANH NGHIỆP HIỆN ĐẠI
PHẦN V THỜI KỲ PHỤC HƯNG
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
T
Lời nói đầu
rong lịch sử, không có nhiều công ty có ảnh hưởng
đến nền văn minh nhân loại lớn như Công ty ô tô
Ford. Chính kỹ sư cơ khí Henry Ford đã dẫn dắt
một nhóm nhân tài sáng lập ra doanh nghiệp sản xuất ô
tô với phương thức và quy mô sản xuất lớn, đưa cả thế giới
công nghiệp vào thời kỳ hiện đại. Cuốn sách “Bí quyết
thành công của Henry Ford” sẽ giúp chúng ta tìm hiểu
Henry Ford và Công ty ô tô Ford đã làm thay đổi thế giới
như thế nào, đồng thời giới thiệu với chúng ta quá trình
phát triển và lớn mạnh cũng như cho chúng ta thấy được
mặt vượt trội của Công ty ô tô Ford. Mỗi một chương
trong cuốn sách đều xuất hiện một nhà phát minh kiệt
xuất, kể cả Thomas Edison, nhiều nhà kinh doanh nổi
tiếng…
Henry Ford và những kinh nghiệm về sản xuất, kinh
doanh của ông đáng để chúng ta học tập.
PHẦN I
CẬU BÉ TRANG TRẠI
I. NGUỒN GỐC
Henry Ford ra đời tại một trang trại nhỏ ở Springfield,
bang Michigan. Thị trấn này nằm cách Detroit 10 dặm về
phía Tây, sau này được sáp nhập vào thị trấn Dearborn.
Ngày nay, Dearborn đã trở thành vùng ngoại ô của thành
phố ô tô, dân số tập trung đông đúc với những đại lộ rực
rỡ ánh đèn và con đường cao tốc 6 làn xe, từng dãy từng
dãy những khu chung cư phát triển với một tốc độ nhanh
chóng đang mọc lên trên vùng đất mênh mông này. Tuy
vậy, vào năm Henry Ford ra đời (1863), Dearborn chỉ là
một thị trấn nhỏ. Ở đó, những cánh rừng rậm rạp Nam
Michigan thoai thoải xuôi về hướng Đông, mãi đến cuối
chân trời mới thấy ống khói của nhà máy đầu tiên ở
Detroit đang nhả khói lên bầu trời. Đi tiếp về hướng đông
là khu vực của 5 hồ lớn, những con thuyền chở gỗ và
nguyên vật liệu xuôi ngược trên sông, từ hồ Huron đến hồ
Saint Clair, rồi từ sông Detroit đến hồ Erie và trung tâm
công nghiệp ở khu Đông Bắc. “Trong thời kỳ nội chiến, ở
khu vực giữa miền Tây, Detroit là một thành phố nhỏ
thịnh vượng và hiếu khách. Thành phố chỉ có 45.000
dân, mặc dù có những bến cảng, cầu tàu, cửa hiệu và nhà
máy nhỏ luôn bận rộn nhưng vẫn giữ được diện mạo của
thời kỳ đầu. Ngoài ra, kinh tế của thành phố lệ thuộc khá
nhiều vào rừng, mỏ quặng, đường sông và đường sắt.“ Bruce Catton, nhà sử học đã viết như vậy trong cuốn sách
“Michigan: Một giai đoạn lịch sử” (Michigan: A history).
Khi Henry Ford ra đời, trên bán đảo Keweenaw ở
miền Tây Michigan có một lượng quặng đồng rất phong
phú. Điều khiến các nhà tìm kiếm thêm phấn khích là họ
còn phát hiện được trên bán đảo có một mạch quặng sắt
khổng lồ và một khoảng rừng rậm rộng lớn. Henry Ford
đã lớn lên trong những năm 70 của thế kỷ XIX, vào thời
điểm đó Michigan là một khu vực xa xôi hẻo lánh, những
hoạt động thương mại chỉ hướng về phía Đông, những
người có con mắt nhìn xa trông rộng lại đầu tư vào vùng
miền Tây rộng lớn chưa được khai thác. Có lẽ môi trường
sống nơi đây đã có ảnh hưởng rất lớn đến Henry Ford.
May mắn là thị trấn Springfield đã cung cấp cho cậu
thanh niên có chí hướng này “mảnh đất trung tâm” tốt
nhất. Nơi đây ban đầu được xây dựng để làm trạm dừng
chân, nằm trên con đường từ Detroit đến Chicago. Về
phía Đông, một cỗ xe bò đi từ Detroit đến đây cũng phải
mất một ngày đường. Về phía Tây, Chicago cách đó 269
dặm. Giống như hiện nay, vào thời điểm đó, Detroit là
thành phố lớn thứ hai đứng sau Chicago. Vị trí địa lí giáp
ranh với Dearborn đã khiến cho những tư tưởng mới của
Detroit ảnh hưởng đến Dearborn từ lĩnh vực thời trang,
vui chơi giải trí đến lĩnh vực chính trị và tiến bộ. Gia đình
Ford là một trong những gia đình có tư tưởng tiên tiến
nhất ở đây. Bởi vậy, dù Henry Ford lớn lên ở trang trại
nhưng đó không phải là nơi để nuôi dưỡng những người
nông dân. Trên thực tế, cha của Ford là William Ford đã
từng có trong tay một trong những trang trại thành công
nhất vùng.
Lịch sử phấn đấu của William Ford bắt đầu từ năm
1847 khi ông rời khỏi Ireland. Khi đó, ngoài việc di cư,
ông và gia đình không còn lựa chọn nào khác. Trang trại
rộng 23 mẫu Anh mà họ từng thuê có thể nuôi sống cả gia
đình hơn 10 người, nhưng đến giai đoạn khó khăn vào
năm 1845-1848, do không thanh toán được tiền thuê đất,
giống như nhiều gia đình nông dân ở Ireland, họ phải rời
bỏ tổ quốc. Điều may mắn là gia tộc Ford đã chọn nước
Mỹ làm nơi gây dựng lại cơ nghiệp.
Năm 21 tuổi, William Ford cùng với cha mẹ là John và
Thomasina và 6 anh chị em đã đi một chuyến tàu với giá
vé thấp nhất vượt qua Đại Tây Dương đến Mỹ để tìm hai
người chú là George và Samuel Ford. Từ năm 1832, hai
người chú đã đến nước Mỹ và định cư ở gần Detroit.
Trong vòng 15 năm sau đó, họ đã gửi thư về cho gia đình
ở Ireland để ca ngợi sự tự do ở thế giới mới. Tuy vậy, dù
viễn cảnh có tươi sáng đến đâu thì bi kịch cũng đã đến với
gia đình Ford trên con đường đến Mỹ. Trong cuộc hành
trình, Thomasina lâm bệnh và qua đời. Tang lễ của bà nội
Henry Ford có lẽ đã được diễn ra trên biển.
Sau khi đến Michigan, họ dựng một căn nhà nhỏ trên
mảnh đất của những người chú ở Springfield. Sau đó một
năm, Henry, em của William đã gia nhập đội quân đào
vàng ở California. Điều này khiến William rất đau lòng.
Ông ở lại, tiếp tục gánh vác trách nhiệm của người anh cả.
Tháng 1 năm 1858, cha của ông đã mua lại một mảnh đất
rộng 80 mẫu Anh từ tay của một người đồng hương
Ireland tên là Henry Maybury với giá 200 đô-la. Gia đình
Ford đến Springfield đúng vào lúc bắt đầu thời đại khai
thác nguyên liệu gỗ của Michigan. Từ những năm 40 đến
những năm 90 của thế kỷ XIX, giá trị khai thác gỗ ở bang
này đã vượt qua con số 1 tỉ đô-la, còn nhiều hơn số vàng
khai thác được ở California. William nắm lấy cơ hội này,
giúp cha thanh toán tiền cho số đất mà họ đã mua, sau đó
ông kiếm được việc làm mộc ở công ty đường sắt trung
ương Michigan.
Năm 1858, John Ford quyết định nghỉ ngơi, ông chia
mảnh đất 80 mẫu Anh thành hai phần bán cho hai người
con trai là William và Samuel. Cậu con trai cả rất tự hào
khi có được một mảnh đất của riêng mình. Năm 1859,
ông thậm chí còn treo tờ hóa đơn nộp thuế đất trong
phòng ngủ của mình. Nhớ về cha mình khi đó, Margaret
Ford Ruddiman đã nói: “Đối với ông, có một nơi có thể
khiến cho một người đàn ông có được mảnh đất để làm
việc và sinh sống quả là một kỳ tích của nước Mỹ”.
Xuất thân của Mary Litogot, mẹ của Henry Ford vẫn
luôn mang một chút bí ẩn. Bà sinh năm 1839, lớn lên ở
Wyon Dort, Michigan, là con gái duy nhất trong gia đình
người thợ mộc William Litogot có 4 người con. Litogot có
lẽ đến từ nước Bỉ, hoặc không phải nước Bỉ - Henry Ford
thường nói rằng mẹ ông là người Hà Lan. Khi Mary mới 3
tuổi, William Litogot không may qua đời. Về nguyên
nhân cái chết, có người nói rằng ông bị rơi từ trên mái
nhà xuống, có người lại nói rằng ông bị ngã trên sông
băng. Bốn đứa trẻ mồ côi đều tìm cho mình được một gia
đình êm ấm. Nhất là Mary, bà đã trở thành niềm vui và
niềm tự hào của cha mẹ nuôi là Patrick O'Hern và
Margaret O'Hern.
Patrick O'Hern đến từ vùng Cork, Ireland, cách gia
đình Ford vẻn vẹn 30 dặm. Khi gia đình Ford rời khỏi
Ireland thì O'Hern cũng rời nhà gia nhập quân đội Anh.
Sau đó ông đã trốn khỏi quân đội ở Quebec, Canada, đến
định cư gần Detroit. Năm 1850, cũng là lúc Mary Litogot
O'Hern vừa tròn 10 tuổi, William Ford đã bắt đầu lao
động trên mảnh đất 91 mẫu Anh trị giá 1000 đô-la của
cha. Sau này, vào một thời điểm ngẫu nhiên, chàng trai
William Ford chợt nhận ra cô gái nhỏ có mái tóc nâu của
nhà O'Hern đã trở thành một cô gái xinh đẹp. Ngày 25
tháng 4 năm 1861, cô gái nhà O'Hern 22 tuổi kết hôn với
William khi đó 34 tuổi.
William Ford chuyển đến ở trong ngôi nhà mới mà
ông cùng bố vợ dựng nên, bắt đầu làm việc ở trang trại
của gia đình vợ. Hai vợ chồng O'Hern coi William như
con đẻ, chưa đến 3 năm, họ đã chuyển nhượng lại cho
William mảnh đất trị giá 1000 đô-la của mình. Một năm
sau, William Ford kiếm được một món tiền trong một vụ
mua bán đất. Ông đã bán mảnh đất 40 mẫu Anh mua lại
của cha, giá 600 đô-la năm 1858 với giá 2500 đô-la. Tiếp
đó, ông và vợ mua tiếp một mảnh đất 80 mẫu Anh giáp
phía Tây, thêm vào đó là mảnh đất 40 mẫu Anh với giá
4100 đô-la ở phía Đông vào năm 1867, tổng diện tích đất
của họ đã lên đến 211 mẫu Anh.
Đứa con đầu lòng của họ làm một cậu con trai, sinh
năm 1862, nhưng tiếc là đứa trẻ đã chết khi còn rất nhỏ.
Ngày 30 tháng 7 năm 1863, đứa trẻ thứ hai ra đời, hai vợ
chồng William đặt tên con là Henry Ford. Một tháng
trước khi Henry ra đời, trận chiến mang tính quyết định
của cuộc chiến tranh Nam - Bắc đã diễn ra ở
Pennsylvania. Trận chiến này đã biến nước Mỹ trở thành
quốc gia thống nhất và ổn định. Cậu của Henry Ford là
John Litogot đã hy sinh trong một trận chiến ở bang
Virginia. Tuy vậy, tư tưởng của Henry Ford gần như
không chịu ảnh hưởng gì quá lớn từ cuộc chiến tranh
Nam - Bắc. Sau này ông còn nói một cách rất nghiêm túc
rằng, sự kiện lớn nhất trong thời kỳ chiến tranh Nam Bắc chính là việc cha ông mua một chiếc máy cắt cỏ để từ
đó, hiệu suất sản xuất của trang trại đã tăng lên 10 lần.
Dù William Ford rất muốn truyền lại cho cậu con trai
cả tình yêu đối với đất đai nhưng Henry Ford chẳng hề
hứng thú với cuộc sống nông thôn và sự lao động vất vả
của những người nông dân. Tuy vậy, trang trại, đặc biệt là
những trang trại lấy hiệu suất làm đầu, có thể nói là
những phòng thí nghiệm tự nhiên của Henry Ford. May
mắn là người cha đã cho cậu con trai có đủ không gian và
được sử dụng những công cụ của trang trại để làm những
việc mình thích. Giống như Margaret đã nói: “Mỗi khi
chúng tôi nhận được những món quà giáng sinh có kết
cấu như máy móc, chúng tôi đều nói: 'Đừng để Henry
nhìn thấy chúng, nếu không chúng sẽ bị tháo ra thành
từng mảnh'.”
Henry Ford luôn được cha mẹ nuông chiều. Mary
Litogot Ford đã đặt cho Henry Ford một chiếc bàn làm
việc ở gian bếp để cậu có thể sửa lại những đồ chơi mà
những đứa trẻ khác đã làm hỏng hoặc làm một số công
việc có ích khác. Bà quả là một người có óc hài hước.
“Chính bà đã làm cho gia đình trở thành một nơi thật tốt
đẹp” - Henry Ford vào năm 60 tuổi đã nói như vậy khi
nhớ về người mẹ kính yêu của mình.
Henry Ford luôn mang theo người một quyển sổ tay
nhỏ, trong đó ghi lại những câu cách ngôn mà ông đã học
được từ mẹ khi còn nhỏ. Trong một lần trả lời phỏng vấn
về bí quyết thành công của mình, ông đã nói: “Tôi luôn
nỗ lực sống như mẹ tôi vẫn hằng kỳ vọng nơi tôi”.
Rất nhiều người quen biết Henry Ford từ nhỏ đã
chứng thực rằng, những điểm chứng tỏ sự thiên tài,
khuynh hướng cũng như những khiếm khuyết của Ford
được bộc lộ ngay từ nhỏ. Bởi vậy, ông nhận được sự đối xử
khá đặc biệt của những người thân trong gia đình “Cha
mẹ cho phép anh ấy dậy muộn”, Margaret nói: “Cũng
chẳng có lý do gì đặc biệt, chỉ vì anh ấy còn đang ngủ. Tất
cả lũ trẻ đều đã dậy và đi làm công việc của mình, chỉ có
anh ấy là vẫn nằm trên giường”. Nhưng một nỗi bất hạnh
đã giáng xuống cuộc đời hạnh phúc của Henry Ford. Ngày
29 tháng 3 năm 1876, 12 ngày sau khi sinh đứa con thứ
tám, mẹ của Henry Ford đã qua đời khi mới 37 tuổi. Năm
đó Henry chưa đầy 13 tuổi. “Như vậy là quá bất công đối
với tôi”, Henry nói. Ông viết: “Sau khi mẹ mất, gia đình
giống như một chiếc đồng hồ không có dây cót”.
Ba năm sau, Henry lúc đó 15 tuổi rời trường học, từ bỏ
con đường đến với cánh cổng trường Phổ thông trung học
và Đại học. Ngày 1 tháng 12 năm 1879, ông đến Detroit,
bắt đầu tìm kiếm giấc mơ cơ khí của mình. “Khi Henry lần
đầu tiên rời khỏi trang trại, ông đã có nhận thức về sự
mạo hiểm” - nhà văn Sidney Olson viết - “Nhưng trên
thực tế, ông lại được an toàn như ở trong giáo đường. Ông
ở cùng Rebecca Flaherty, người cô mà ông yêu quý nhất,
còn Jane, con gái của Rebecca lại đang chăm sóc gia đình
William Ford. Trang trại vẫn luôn là một hậu thuẫn an
toàn ở phía sau Henry, cha ông đã chuẩn bị sẵn sàng cho
ông một mảnh đất để trở thành một người nông dân”.
Henry Ford ở nhà của chị cả của cha, ông nhanh
chóng tìm được một công việc ở Nhà máy công ty ô tô
Michigan, chuyên sản xuất xe điện chạy trên đường ray.
Tuy vậy, ngay sau đó 6 ngày ông bị đuổi việc, lý do cho
đến giờ vẫn là một bí mật. Từ đó về sau Ford luôn trốn
tránh câu hỏi này, chỉ để lại một ám thị khiến người ta
nửa tin nửa ngờ: Sự thành thục quá sớm của ông trong
công nghệ cơ khí đã xúc phạm đến những người công
nhân có kinh nghiệm hơn ông.
Cho dù nguyên nhân là gì thì lần thất bại đầu tiên này
không có gì ghê gớm. Ford, dưới sự giúp đỡ của cha đã
tìm được một công việc mới. William giới thiệu Ford đến
học việc ở nhà máy cơ khí James Flower Brothers. Đây là
nhà máy chuyên thiết kế và sản xuất những chi tiết máy
bằng đồng và sắt, ông chủ và cha của Ford rất thân với
nhau. Tuy nhiên, thu nhập cho một tuần làm việc 60
tiếng của Ford chỉ có 2,5 đô-la, mà tiền trọ và tiền ăn lại
cao hơn 1 đô-la so với thu nhập, điều này buộc Henry
phải tìm thêm một công việc làm đêm: sửa chữa đồng hồ
cho một nhà buôn đá quý ở địa phương. Đó là cơ hội để
Henry tìm hiểu các loại van, ống hơi, đồng hồ tín hiệu, trụ
cứu hỏa cùng các linh kiện của hệ thống cung cấp nước và
các sản phẩm khác mà nhà máy cơ khí James Flower's
Brothers sản xuất.
Trong số những người bạn học việc cùng với Ford có
một cậu bé 10 tuổi tên là Frederick Strauss. Hai cậu bé
đều có chung khát vọng, nhưng điều làm họ thất vọng là
họ chẳng học được gì nhiều. Dù toàn bộ các thiết bị máy
móc ở nhà máy có thể khiến nó hoàn thành được các công
việc từ thiết kế bản vẽ ban đầu cho đến đúc và gia công
hoàn chỉnh các chi tiết, nhưng Ford lại không hiểu được
bao nhiêu về quy trình đó bởi cậu chỉ có thể đứng bên
chiếc máy của mình mà thôi.
Tài năng của Henry giúp ông hoàn thành bất cứ một
công việc gì chẳng mấy khó khăn. Ông luôn đi lại trong
nhà máy, không ngừng đưa ra các câu hỏi với những
người công nhân có kinh nghiệm hơn để cố gắng học lấy
điều gì đó, bất luận là người ta đang làm gì. Khi đó
Frederick Strauss đã bắt đầu làm việc cho một nhà máy ở
đối diện đường. Hai người vẫn tiếp tục tìm kiếm giấc mơ
của họ thời niên thiếu. “Henry Ford luôn muốn chế tạo
một thứ gì đó” -Strauss nhớ lại - “Lần đầu tôi thấy ông ấy
tiêu tiền là khi ông ấy bỏ ra 1,25 đô-la để mua một chi tiết
đúc”. Ford mua những thứ đó để làm một chiếc máy hơi
nước cỡ nhỏ, nhưng lại không có những kỹ thuật gia công
chuyên nghiệp cần thiết để chiếc máy nhỏ vận hành được.
Bởi vậy, ông đã nhờ Strauss. Strauss giấu những chi tiết
đúc nhỏ ở nơi ông làm việc, khi không có người chú ý,
ông làm những công việc được Henry giao.
Nhưng chiếc máy hơi nước của họ cuối cùng đã không
thể hoàn thành, đây cũng không phải là lần thất bại duy
nhất. Strauss còn làm giúp Henry rất nhiều việc nhưng họ
đều thất bại; không những thế, chi phí cho những công
trình nhỏ của họ đều do mẹ của Strauss chi trả. “Henry
luôn có những ý tưởng mới” - Strauss nói - “Tuần nào
chúng tôi cũng bắt đầu làm một thứ gì đó nhưng chẳng
lần nào thành công”.
May mắn là - ít ra là gia đình Strauss cảm thấy may
mắn, Henry Ford phải tạm thời quay trở về trang trại.
Mùa xuân năm 1882, Henry trở về Dearborn, bởi vì ông
đã sắp 20 tuổi, bạn bè và người thân ở quê nhà, đặc biệt là
cha của Henry hy vọng rằng Hank (mọi người khi đó
thích gọi ông như vậy) đã nhận thức được rằng cuộc sống
ở thành phố lớn không dành cho ông và ông sẽ an tâm với
công việc kinh doanh ở trang trại của gia đình. Nhưng
vòng quay trong đầu chàng thanh niên trẻ vẫn không
ngừng chuyển động. Cậu đồng ý sống ở nhà, nhưng vẫn
lấy danh nghĩa là đại diện của Công ty Westinghouse, đi
khắp nơi ở Nam Michigan và Bắc Ohio sửa chữa máy hơi
nước. Chính vào giai đoạn Henry Ford bắt đầu trưởng
thành, xe đạp đang lên cơn sốt ở Mỹ. Những chiếc xe đạp
đến từ Paris trong những năm 60 của thế kỷ XIX đã
chứng minh nó là một công cụ giao thông giá rẻ, sạch sẽ
và có hiệu suất cao. Đến những năm 90 của thế kỷ XIX,
xe đạp đã xuất hiện ở khắp nơi trên nước Mỹ. Trước đó,
phương tiện giao thông duy nhất chỉ có ngựa. Nhưng
ngựa quá đắt, nuôi dưỡng chúng cũng mất rất nhiều công
sức, chạy trên đường đá cuội lại phát ra tiếng ồn rất lớn.
Hơn nữa ngựa còn thải phân, vừa thu hút ruồi nhặng lại
vừa dễ lây lan bệnh tật. So với ngựa thì xe đạp không đem
lại cho con người trở ngại và sự đe dọa nào. Chính vì thế,
một thời xe đạp rất thịnh hành. Trên thực tế, rất nhiều
nhà chế tạo ô tô ở châu Âu đã bắt đầu sự nghiệp bằng
công việc chế tạo xe đạp.
Ford cũng giống như những người bạn cùng ngành ở
châu Âu, đã áp dụng một số nguyên lí của xe đạp vào phát
minh ô tô. Ban ngày ông sửa chữa máy hơi nước, tối đến
ông học kế toán, đánh máy, vẽ cơ khí và một số giáo trình
kinh doanh phổ thông khác ở Đại học Thương mại
Goldsmith, Bryant and Stratton. Mỗi khi có thời gian ông
lại tiếp tục các công việc phát minh của mình. Năm 21
tuổi, trong vòng tròn xã giao nhỏ hẹp ở Detroit, Henry đã
tìm thấy hạnh phúc của mình. Trong một buổi vũ hội,
một cô gái nhỏ nhắn với mái tóc màu hạt dẻ đã thu hút sự
chú ý của ông. Qua bạn bè giới thiệu, Henry đã làm quen
với Clara Jane Bryant. Trang trại của gia đình cô chỉ cách
nhà Ford 5 dặm. Cha của cô là con của một người dân di
cư đến từ Canada, đã từng nhậm chức trong bộ máy lập
pháp của bang. Là con thứ ba trong gia đình và là cô con
gái lớn nhất, Clara phải giúp bố mẹ chăm sóc hơn 9 anh
chị em. “Cô ấy là một cô gái rất tốt, rất đẹp, được mọi
người yêu mến và cũng rất nhanh nhẹn” - Edward Moner
nhớ lại - “Cô ấy không thường xuyên tham gia các buổi vũ
hội, theo tôi được biết, khi đó những người theo đuổi cô
ấy cũng không nhiều”.
Ban đầu Clara không mấy để ý đến Ford, nhưng không
lâu sau, cô bắt đầu cảm thấy có hứng thú với chàng trai
khác người này, bởi vì Henry không hời hợt như những
thanh niên khác. Cô yêu thích sự nhiệt tình của Ford.
Ngày 11 tháng 4 năm 1888, cũng là ngày sinh nhật lần thứ
22 của Clara, Henry và Clara đã làm lễ cưới tại gia đình
Bryant. Trước khi hai người quen nhau vào tháng 4 năm
1986, William Ford đã từng có ý định giao lại cho Henry
mảnh rừng 80 mẫu Anh để Henry an tâm ở lại trang trại.
Henry Ford bắt đầu nộp thuế tài sản cho mảnh đất này
vào năm 1887, đồng thời lắp đặt một chiếc máy cưa hơi
nước để sản xuất gỗ. Sau khi kết hôn, ông chấp nhận đề
nghị của cha, cùng vợ chuyển đến căn nhà cũ trong trang
trại này (những người em của Henry đã dọn dẹp lại căn
nhà như mới để làm món quà cưới cho anh cả). Một năm
sau, dựa vào thiết kế của Clara Ford, Henry Ford đã dùng
vật liệu gỗ do trang trại sản xuất để dựng một căn nhà
hình vuông có lan can ở xung quanh. Sau khi dọn về sống
trong tổ ấm bé nhỏ, đôi vợ chồng trẻ dường như đã bắt
đầu cuộc sống bình thản mà gia đình đã sắp xếp cho họ.
Tuy nhiên, sau đó một hai năm, Ford bắt đầu lên kế
hoạch quay lại làm việc ở Detroit. Điểm đặc biệt thu hút
ông là Công ty chiếu sáng Edison, ông cho rằng mình
nhất định sẽ tìm được một công việc ở công ty này. Ông
bàn bạc, hỏi ý kiến vợ. Henry Ford có thể là một người cố
chấp nhưng ông cũng dễ bị khuất phục trước tình cảm,
ông luôn nói rằng, Clara là người có thể làm thay đổi cách
nghĩ của ông. Tuy nhiên, Clara luôn ủng hộ ông. “Bà ấy là
một tín đồ của tôi”, Ford đã nói về vợ mình như vậy.
Clara Bryant Ford đã chấp nhận đề nghị quay trở lại
với ngành công nghiệp của Henry. Tháng 9 năm 1891, với
sự giúp đỡ của anh em nhà Clara, hai vợ chồng Henry đã
chuyển nhà đến Detroit, trọ trong một căn hộ với số tiền
thuê nhà là 10 đô-la/tháng. Henry Ford đã được trở lại
Detroit như ý nguyện nhưng thành phố này lại đang trong
giai đoạn kinh tế tiêu điều 1891-1892. Có đến 1/3 số người
muốn tìm việc ở Detroit không có được việc làm. Tuy vậy,
đối với Henry Ford, ông không gặp khó khăn trong
chuyện tìm việc, ông đã có được một công việc như mong
ước - kỹ sư trạm điện của Công ty chiếu sáng Edison. Ông
nhanh chóng chứng minh được khả năng của mình bằng
cách luôn duy trì hoạt động cho chiếc máy phát điện.
Điều đó đã khiến công ty rất hài lòng, ông nhanh chóng
được cất nhắc, lương của ông tăng từ 40 đô-la/tháng lên
75 đô-la/tháng. Không lâu sau ông đã trở thành kỹ sư
đứng đầu trạm điện nơi ông phụ trách. Chức vụ này khiến
ông phải có mặt 24/24 tại trạm điện nhưng cũng đem lại
cho ông thu nhập 1000 đô-la/năm.
Ngày 6 tháng 11 năm 1893, đứa con duy nhất của
Clara và Henry Ford chào đời. Đó là một cậu con trai, hai
vợ chồng Ford dựa vào tên của một người bạn thân nhất
của Henry Ford thời niên thiếu là Edsel Radman để đặt
tên cho cậu con trai là Edsel Bryant Ford. Vài ngày sau
đó, Henry Ford lại được tăng lương, mức lương hàng
tháng là 90 đô-la. Ba tuần sau ông lại được thăng chức kỹ
sư trưởng trạm điện chính thành phố của Công ty Edison.
Nơi làm việc mới của ông cách nơi ông trọ tới 25 dãy phố.
Họ lại phải chuyển nhà một lần nữa. Sự thực đã chứng
minh rằng lần chuyển nhà này là một may mắn. Nơi ở
mới của họ chỉ cách Công ty Edison 3 dãy phố, là một
trong những khu vực được cấp điện sớm nhất trong thành
phố. Tuyệt vời hơn nữa là phía sân sau còn có một căn
phòng nhỏ, là nơi lý tưởng để làm một xưởng nhỏ, chiếc
xe ô tô chạy bằng xăng đầu tiên của Ford đã ra đời tại đây.
Vào năm 1891, ngành công nghiệp ô tô đã bắt đầu xuất
hiện ở Đức và Pháp, nhưng phải đến hai năm sau đó
người Mỹ mới lần đầu tiên ngồi ô tô. Mãi đến tháng 9
năm 1893, hai anh em Charles Duryea và Frank Duryea
mới lái chiếc xe ô tô chạy bằng xăng do họ thiết kế xuất
hiện trên đường phố Massachusetts. Vào thời khắc bình
minh của thời đại ô tô, cũng giống như anh em nhà
Duryea, Ford cũng cho rằng động cơ xăng là động cơ lý
tưởng cho ô tô. Ông nắm được những ưu, nhược điểm của
máy hơi nước: nó cần thời gian rất lâu để làm nóng và sức
nặng của ác quy cũng khiến xe chuyển động chậm hơn.
Vào đêm cuối năm năm 1893, Ford đã thử nghiệm
chiếc động cơ xăng đầu tiên của mình. Chiếc động cơ này
trông chẳng khác gì một khẩu pháo đồ chơi cỡ lớn, rất
nặng, cần tới hai người khiêng, bởi vậy, Henry chuyển
phát minh của mình vào trong bếp, Clara trở thành trợ
thủ của ông. Clara nhỏ vài giọt nhiên liệu trong khi Henry
quay bánh đà, nhưng ban đầu chẳng có gì xảy ra. Lần thứ
hai, chiếc máy đột nhiên phát ra tiếng và bắt đầu chuyển
động nhưng nhanh chóng biến thành một quả cầu lửa.
Trong phút chốc, căn bếp nhà Ford ngập khói đen và
những âm thanh khủng khiếp. Tuy vậy, theo Clara thì lần
thí nghiệm này cũng có thể coi là một thắng lợi. Sự khoan
dung độ lượng của Clara chỉ có thể được giải thích bằng sự
thông cảm và hiểu biết đối với người chồng của mình, bà
biết chồng mình đang làm gì, bà cũng biết họ nhất định sẽ
có được gì đó từ những nỗ lực của chồng.
Đầu năm 1894, Ford lại được đề bạt, trong số 50 nhân
viên của Công ty chiếu sáng Edison ở Detroit, ông là
người có mức lương cao nhất: 100 đô-la/tháng. Khả năng
hơn người và sự nhiệt tình đã khiến ông có được sự ủng
hộ lớn từ những đồng nghiệp. Ông cùng một số kỹ sư của
công ty thuê một căn phòng ngầm trước được dùng làm
kho chứa hàng ở phố đối diện, cải tạo thành một xưởng cơ
khí, chuyên dùng để thử nghiệm động cơ xăng. Ford là
người lãnh đạo, đưa ra các ý tưởng và đa số các nguyên
vật liệu, những người bạn của ông phụ trách việc thực hiện
các công việc. Sự tập trung trí tuệ của họ đã đưa đến một
thành quả phi thường, cuối cùng họ cũng đã chế tạo ra
được một loại xi-lanh thích hợp.
Còn một người nữa có cùng ý tưởng với Ford và những
người bạn của ông. Đó là Charles Shiredy King, trẻ hơn
Ford 5 tuổi. Đến năm 1895, King ít nhất đã phấn đấu hai
năm cho mục tiêu chế tạo ô tô. Ngày 6 tháng 3 năm 1896,
chiếc xe đầu tiên do King chế tạo đã được xuất hiện trên
đường phố, người dân Detroit lần đầu tiên nhìn thấy ô tô.
Trên thực tế, chiếc ô tô có tên “Tootsie” về cơ bản là một
chiếc xe ngựa gỗ lắp thêm một động cơ 4 xi-lanh, tốc độ
lớn nhất khoảng 4 dặm/giờ. Tại sao King có thể thành
công sớm hơn Ford 3 tháng? Có người nói hai năm trước
ông đã từng đến Paris để khảo sát ngành chế tạo ô tô tại
Pháp, sau đó đã áp dụng một số thiết kế và linh kiện tiên
tiến cho chiếc xe của mình.
Trải qua gần 48 tiếng liên tục làm việc không ngừng,
sáng sớm ngày 4 tháng 6 năm 1896, Ford đã hoàn thành
công trình của mình. Mới 4 giờ sáng, Ford đã đem phát
minh của mình ra trình diễn trước công chúng, chẳng có
bất kỳ một nghi thức nào, khán giả chỉ có hai người: vợ
ông - Clara và James W.Bishop - trợ thủ đắc lực của ông.
Khi Ford chuẩn bị lái chiếc xe ra phố, ông lập tức nhận ra
rằng chiếc xe không thể được đưa ra ngoài qua cánh cửa
nhỏ của căn xưởng. Đây cũng là vấn đề khá phổ biến
trong giới kỹ sư thời bấy giờ, ví dụ như năm 1908, Martin,
người đi tiên phong trong lĩnh vực hàng không đã chế tạo
ra chiếc máy bay đầu tiên trong một giáo đường bỏ
hoang. Nhưng đến khi chuẩn bị cho máy bay cất cánh thì
Martin mới phát hiện ra ông không thể đưa được chiếc
máy bay ra khỏi giáo đường, ông đã phải nhờ đến một
chiếc máy ủi của công trình gần đó húc đổ một bên tường
giáo đường để đưa chiếc máy bay ra. Ford cũng đã áp
dụng biện pháp tương tự như của Martin: Ông dùng rìu
để đục một lỗ lớn trên tường, đưa chiếc xe ra.
Xét về mặt kỹ thuật, chiếc xe ngựa không ngựa đầu
tiên của Ford chưa thể coi là một chiếc xe ô tô, chỉ có thể
nói là một chiếc xe bốn bánh lắp động cơ 2 xi-lanh, 4 mã
lực, nặng 500 pound (khoảng 226 kg), chỉ có hai mức tốc
độ, không lùi được xe, cũng không có phanh. Người lái
chỉ có thể ngồi trên chiếc ghế lắp phía trên động cơ, điều
khiển xe thông qua chiếc vô lăng, trên chiếc vô-lăng có
gắn một nút chuông cửa, coi như là còi ô tô. Tuy vậy,
chiếc xe của Ford đã vượt qua chiếc “Tootsie” của King:
tốc độ của nó có thể đạt được khoảng 20 dặm Anh.
II. KHỞI NGHIỆP
Đến giữa mùa hè năm 1896, Henry Ford trở thành kỹ
sư trưởng được tôn trọng nhất ở Công ty chiếu sáng
Edison Detroit với mức lương 140 đô-la/tháng. Tháng 8
năm đó, Alexander Dow, người đứng đầu mới của Công ty
chiếu sáng Edison đã mời ông cùng tham gia cuộc họp
thường niên lần thứ 17 của Hiệp hội Công ty chiếu sáng
Edison, địa điểm tổ chức cuộc họp là ở khu Manhattan,
thành phố New York. Đây là một chuyến du lịch có ý
nghĩa vô cùng quan trọng bởi nó đã cho Ford cơ hội trực
tiếp tiếp xúc với Thomas Edison, người mà Ford vẫn luôn
ngưỡng mộ. Alexander Dow đã giới thiệu Ford với
Edison, Edison rất khen ngợi phát minh của Ford, khích
lệ ông hãy tiếp tục phấn đấu.
Những lời khích lệ của Edison có ảnh hưởng rất quan
trọng đối với cả cuộc đời của Ford. Vào thời điểm đó, dân
số của Detroit tiếp tục tăng trưởng, không có thành phố
nào ở Mỹ có mức tăng trưởng nhanh như Detroit. Khi
Ford ra đời, quy mô của Detroit chỉ xếp hàng thứ 19 ở Mỹ,
nhưng đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nó được liệt
vào danh sách 13 thành phố lớn ở Mỹ, dân số đạt 285.704
người. Ngoài ra nó còn là thành phố có tỉ lệ dân không
nói tiếng Anh lớn nhất ở Mỹ. Sau cuộc khủng hoảng vào
năm 1893, Detroit bắt đầu phát triển hưng thịnh. Những
chiếc xe điện đi lại trên những con phố chính nhiều như
mắc cửi. Rất nhiều nhà doanh nghiệp được thu hút đến
đây. Rất nhiều nhà máy đã mọc lên ở đây. Vào năm 1900,
Detroit đã có 44 triệu phú, trong số họ có rất nhiều người
muốn đầu tư vào ngành công nghiệp ô tô.
Trong số những người có ảnh hưởng ở Detroit, người
tỏ ra hứng thú với hạng mục của Ford chính là Thị trưởng
thành phố, William C.Mayburry. Gia tộc Mayburry đã có
mối quan hệ thân thiết với gia tộc Ford từ nhiều năm nay.
Trên thực tế, Mayburry đã giúp đỡ Ford rất nhiều trong
thời gian Ford đang nghiên cứu chiếc xe mới trong căn
xưởng ở gần trạm phát điện của Công ty Edison. Khi đó
Ford phải thuê một người thợ sắt chế tạo các chi tiết kim
loại, nhưng người thợ này yêu cầu phải thanh toán ngay.
Với sự giúp đỡ của ngài thị trưởng về mặt tài chính, Ford
chỉ cần đưa hóa đơn cho ông là có thể yên tâm, người thợ
sắt luôn được thanh toán đúng hẹn.
Những chi phí cho việc chế tạo ô tô đã buộc Ford phải
chuyển nhà lần nữa vào tháng 6 năm 1897, nơi ở mới có
giá thuê rẻ hơn, có một gian phòng thích hợp để làm
xưởng gia đình nhưng lại cách xa trạm điện của Công ty
chiếu sáng Edison. Ford đã mời Strauss sau giờ làm đến
giúp mình. Đầu năm 1898, Ford đã chế tạo thành công
chiếc ô tô chạy xăng đời thứ hai của mình. So với chiếc xe
đầu tiên, chiếc xe thứ hai đã có sự cải tiến rất lớn, có thể
cạnh tranh được với ô tô điện và ô tô hơi nước. Ô tô hơi
nước do anh em nhà Stanley chế tạo. Hai anh em sinh đôi
nhà Stanley sinh ở bang Massachusetts, họ là những nhà
chế tạo ô tô nghiệp dư, nhưng sau khi chiếc xe được ra
mắt công chúng, họ đã nhận được hơn 200 đơn đặt hàng.
So với hai đối thủ cạnh tranh là ô tô chạy xăng và ô tô
điện, ô tô chạy bằng động cơ hơi nước có một ưu thế đặc
biệt: đó là khả năng tăng tốc. Chỉ cần vặn nhẹ van là chiếc
xe đã có thể tăng tốc, nhưng với điều kiện chiếc xe phải
được gia nhiệt trước đó khoảng nửa tiếng. Động cơ xăng
về mặt khởi động cũng có nhược điểm riêng: phải dùng
tay để quay cần khởi động. Ô tô chạy xăng dù chưa được
coi trọng vào thời điểm đó nhưng Ford biết rằng sau này
nó sẽ có tương lai phát triển. Ông cảm thấy ô tô điện và ô
tô hơi nước đã phát triển đến đỉnh điểm, chẳng còn chỗ
nào để phát triển hơn nữa, tốc độ của xe điện quá chậm,
phạm vi hoạt động bị hạn chế.
Tháng 8 năm 1898, bộ chế hòa khí do Henry Ford
thiết kế năm trước đã nhận được bản quyền, dù là xin
dưới danh nghĩa của William C.Mayburry thì đây vẫn là
bản quyền đầu tiên của Ford. Trước đây, Mayburry chính
là nhà đầu tư của Ford, và khi đó cũng đang đầu tư cho
chiếc xe thứ hai của Ford. Sau đó không lâu, Mayburry đã
không còn là hậu thuẫn duy nhất của Ford và cũng không
còn là người duy nhất tin tưởng vào tương lai của ngành ô
tô. Sau khi Ford giành được bản quyền đầu tiên, thị
trưởng Mayburry đã nhanh chóng liên hệ với 3 nhà đầu
tư cũng nhiệt tình như ông: Ellery I.Garfield của Công ty
Ford Wayne, giáo sư bác sỹ Benjamin R. Hoyt và E.A.
Leonard của Công ty bảo hiểm nhân thọ và sự cố
Standard. Họ đã thảo một bản thỏa thuận ghi nhớ đơn
giản, thỏa thuận 4 người sẽ cung cấp tiền cho thí nghiệm
ô tô của Ford, mỗi người chi 500 đô-la. Điều kiện là Ford
chỉ giữ 1/3 quyền bản quyền, 2/3 quyền bản quyền thuộc
về những nhà đầu tư. Sau khi việc tiêu thụ ô tô của Ford
thu được lợi nhuận, việc phân chia lợi nhuận cũng sẽ được
chia theo tỷ lệ tương tự. Nếu thành quả thí nghiệm của
Ford dẫn đến sự ra đời của một công ty nào đó thì thỏa
thuận vẫn tiếp tục có hiệu lực, công ty mới sẽ dành cho
Henry Ford một mức thù lao xứng đáng.
Tháng 8 năm 1899, Ford...
 






Các ý kiến mới nhất